CHƯƠNG 3 — Breakout (phá vỡ), trading range (vùng đi ngang), test (kiểm định) và đảo chiều
Cũng như một bar có thể là một trend bar (nến xu hướng) hoặc một trading range bar, bất kỳ đoạn nào của một biểu đồ cũng có thể được phân loại là đang trend (đi theo xu hướng) — nơi hoặc phe mua hoặc phe bán chiếm ưu thế — hoặc hai chiều, nơi cả phe mua và phe bán lần lượt nắm quyền kiểm soát tương đối. Khi thị trường breakout thành một trend, thường có một trend bar, có thể nhỏ hoặc lớn, được theo sau bởi nhiều bar đang trending khi thị trường spike (nhịp tăng/giảm đột ngột) ra xa trading range. Một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà một trader có thể phát triển là khả năng phân biệt một cách đáng tin cậy giữa một breakout thành công và một breakout thất bại (một đảo chiều). Liệu breakout sẽ dẫn tới một nhịp swing theo hướng của breakout hay theo hướng ngược lại? Điều này được thảo luận chi tiết trong cuốn sách thứ hai. Trong các thị trường giao dịch mỏng, breakout có thể hiện ra như một gap (khoảng trống) thay vì một trend bar, và đó là lý do một trend bar nên được nghĩ như một kiểu gap (được thảo luận chi tiết trong cuốn 2). Tại một thời điểm nào đó, thị trường bắt đầu có các pullback (nhịp hồi) rồi trend chậm lại thành một độ dốc thoải hơn và trở thành một channel (kênh giá) hơn, nơi một trend line (đường xu hướng) và một trend channel line (đường kênh xu hướng) có thể được vẽ. Khi trend tiếp tục, các đường nên được vẽ lại để chứa price action đang phát triển. Thường thì độ dốc trở nên thoải hơn và channel trở nên rộng hơn.
Một dạng nào đó của hành vi spike and channel (spike rồi kênh) xảy ra ở một mức độ nào đó mỗi ngày trên mọi thị trường. Điểm bắt đầu của channel thường trở thành điểm bắt đầu của một trading range sơ khởi. Ví dụ, nếu có một spike lên (một breakout lên trên) kéo dài vài bar, sau đó sẽ có một pullback. Một khi pullback kết thúc và trend tiếp tục lên, nó thường làm vậy trong một channel chứ không phải một spike gần như thẳng đứng, và thường có nhiều chồng lấn hơn giữa các bar, nhiều pullback nhỏ hơn, nhiều bar có đuôi hơn, và một số bear trend bar. Đáy của giai đoạn channel của trend thường sẽ được test trong vòng một hoặc hai ngày. Một khi pullback đó bắt đầu và thị trường đang đi xuống về phía điểm bắt đầu của channel, trader sẽ nghi ngờ rằng một trading range đang hình thành, và họ đúng. Các trader price action sẽ đoán trước trading range đó ngay khi spike kết thúc và channel bắt đầu, và một vài phe bán sẽ bắt đầu scale in (chia nhỏ vào lệnh) short trên pullback đầu tiên sau spike. Vì họ tin chắc rằng đáy của channel sẽ sớm được test, họ sẽ scale in thêm short trên các pullback khác và trên các đỉnh của các bar trước khi thị trường tiếp tục lên. Về sau trong channel, nhiều phe bán hơn sẽ scale in trên các bar. Một khi thị trường quay xuống thành một pullback lớn hơn test đáy của channel, họ sẽ thoát tất cả các vị thế short với lời trên các lần vào sau và hòa vốn trên lần vào đầu tiên. Vì nhiều trader sẽ cover short quanh đáy của channel, việc mua của họ cùng với phe mua quay lại mua nơi họ đã mua trước đó (tại đáy của pullback đầu tiên sau spike lên) sẽ nâng thị trường một lần nữa, và trading range sẽ mở rộng. Sau nhịp nảy này, hiệu ứng của spike and channel đã diễn ra xong và trader sẽ tìm các mô hình khác.
Vì các channel thường cuối cùng bị retrace, hữu ích khi nhìn mọi bull channel như những bear flag (cờ giảm) và mọi bear channel như những bull flag (cờ tăng). Tuy nhiên, nếu trend mạnh, breakout có thể đi ngang và được theo sau bởi thêm trending. Hiếm khi, breakout có thể theo hướng của trend và trend có thể tăng tốc sắc. Ví dụ, nếu có một bull spike rồi một bull channel, hiếm khi thị trường sẽ breakout trên trend channel line và bull trend sẽ tăng tốc. Thường thì breakout sẽ thất bại trong khoảng năm bar và thị trường sau đó sẽ đảo chiều.
Dù hầu hết trading range là flag trên các biểu đồ khung thời gian cao hơn, và hầu hết chúng breakout theo hướng của trend, gần như mọi đảo chiều đều bắt đầu như những trading range, điều sẽ được thảo luận trong phần về đảo chiều trong cuốn sách thứ ba.
Một test nghĩa là thị trường đang quay lại một vùng hỗ trợ hoặc kháng cự, như một trend line, một trend channel line, một mục tiêu measured move (mục tiêu đo bằng chiều cao nhịp), một đỉnh hoặc đáy swing trước đó, đáy của một bull entry bar (nến vào lệnh mua) hoặc đỉnh của một bear entry bar (nến vào lệnh bán), đỉnh của một bull signal bar (nến tín hiệu mua) hoặc đáy của một bear signal bar (nến tín hiệu bán), hoặc đỉnh, đáy, giá đóng, hoặc giá mở của ngày hôm qua. Trader thường đặt lệnh dựa trên hành vi tại lần test. Ví dụ, nếu thị trường đã có một đỉnh, một pullback, rồi một nhịp tăng trở lại đỉnh đó, phe mua muốn thấy một breakout mạnh. Nếu một breakout có vẻ đang phát triển, họ có thể mua tại một tick trên đỉnh cũ hoặc họ có thể chờ một pullback từ breakout rồi mua tại một tick trên đỉnh của bar trước, kỳ vọng sự tiếp tục của breakout. Phe bán đang tìm một đảo chiều. Nếu nhịp tăng lên tới đỉnh cũ thiếu động lượng rồi thị trường tạo thành một reversal bar trong vùng đỉnh cũ, họ sẽ short dưới reversal bar. Họ không quan tâm liệu lần test tạo thành một higher high (đỉnh cao hơn), một double top (đỉnh đôi), hay một lower high (đỉnh thấp hơn). Họ chỉ muốn thấy thị trường từ chối các mức giá ở vùng này để xác nhận ý kiến của họ rằng thị trường quá đắt ở đây.
Một đảo chiều là sự thay đổi từ một kiểu hành vi sang một kiểu hành vi đối lập, nhưng thuật ngữ này thường được dùng nhất để mô tả sự thay đổi từ một trend tăng sang một trend giảm hoặc từ một trend giảm sang một trend tăng. Tuy nhiên, hành vi trading range có thể tranh luận được là đối lập với hành vi trending, và khi một trend được theo sau bởi một trading range, hành vi của thị trường đã đảo chiều. Khi một trading range trở thành một trend, hành vi của thị trường cũng đã đảo chiều, nhưng sự thay đổi đó được gọi là một breakout. Không ai gọi nó là một đảo chiều, dù về mặt kỹ thuật nó đang đảo chiều giao dịch hai chiều thành giao dịch một chiều.
Dù hầu hết trader nghĩ rằng một đảo chiều là từ một trend tăng sang một trend giảm hoặc từ một trend giảm sang một trend tăng, hầu hết đảo chiều thất bại trong việc dẫn tới một trend đối lập và thay vào đó trở thành một sự chuyển tiếp tạm thời từ một trend tăng hoặc giảm vào một trading range. Thị trường có inertia (quán tính) và rất kháng cự với sự thay đổi. Khi có một trend tăng mạnh, nó sẽ kháng cự sự thay đổi; gần như mọi nỗ lực đảo chiều sẽ kết thúc như một bull flag, rồi trend sẽ tiếp tục. Mỗi bull flag kế tiếp có khuynh hướng lớn hơn khi phe mua trở nên lo ngại hơn tại các đỉnh mới về việc chốt lời và ít hứng thú mua mạnh, và phe bán sẽ bắt đầu trở nên ngày càng quyết liệt. Tại một thời điểm nào đó, phe bán sẽ át phe mua, trading range sẽ phá xuống dưới, và một trend giảm sẽ bắt đầu. Tuy nhiên, điều này thường xảy ra sau vài nỗ lực đảo chiều sớm hơn đã dẫn tới những bull flag ngày càng lớn hơn, nơi phe mua át phe bán và một trend giảm thất bại không phát triển. Dù hầu hết đảo chiều đơn giản dẫn tới trading range, nhịp đi thường đủ lớn để tạo ra một swing trade (giao dịch nắm sóng), vốn là một nhịp đủ lớn để tạo ra lợi nhuận đáng kể. Ngay cả nếu một trend đối lập cuối cùng diễn ra, trader sẽ chốt ít nhất một phần lời tại các mục tiêu hợp lý đầu tiên, phòng trường hợp đảo chiều chỉ dẫn tới một trading range, vốn thường là trường hợp.
Đảo chiều có những vẻ ngoài khác nhau, tùy thuộc vào biểu đồ bạn đang dùng. Ví dụ, nếu bạn thấy một bear reversal bar lớn trên biểu đồ khung tháng, nó có thể là một đảo chiều hai bar trên biểu đồ khung tuần, và nó có thể là một bull spike ba bar, vốn là một buy climax (đỉnh cực đoan mua), rồi một trading range 10 ngày, và cuối cùng một bear breakout hai bar trên biểu đồ khung ngày. Không quan trọng bạn đang dùng biểu đồ nào miễn là bạn nhận ra mô hình như một đảo chiều, và tất cả các mô hình này đều là mô hình đảo chiều.
[Figure 3.1]
HÌNH 3.1 Breakout, Trading Range và Test
Biểu đồ Emini 5 phút trong Hình 3.1 cho thấy các ví dụ về breakout, trading range và test. Mỗi swing đều là một test của thứ gì đó, dù hầu hết trader không thấy cái đang được test. Nhiều test liên quan đến price action trên các khung thời gian khác và các kiểu biểu đồ khác, và bao gồm các lần test các kiểu đường trung bình động khác nhau, các dải, các mức Fibonacci, các pivot, và vô số thứ khác.
Thị trường đã test đáy của ngày hôm qua, nhưng breakout thất bại và tạo thành một lower low (đáy thấp hơn) khi nó đảo chiều lên sắc trong một spike lên tới bar 4. Mọi breakout, dù thành công hay thất bại, cuối cùng đều được theo sau bởi một trading range, như đã xảy ra ở đây. Một breakout thất bại tới một đáy mới cho thấy phe mua và phe bán đồng ý rằng giá quá thấp. Phe bán sẽ chốt lời và không bán nhiều tại những mức giá thấp này và phe mua sẽ tiếp tục mua mạnh cho đến khi cả hai tin rằng thị trường đã đạt tới một vùng cân bằng mới, vốn là một trading range.
Bar 1 là signal bar cho đợt bán tháo lúc mở cửa, và thị trường lẽ ra không thể đi trên đỉnh của nó nếu phe bán vẫn còn kiểm soát.
Bar 4 là một higher high test đỉnh bar 1, và động lượng tăng mạnh đến mức thị trường nhiều khả năng sẽ test lên ít nhất thêm một lần nữa trước khi phe mua bỏ cuộc. Double top (đỉnh đôi và đáy đôi hiếm khi khớp chính xác) chỉ dẫn tới một pullback một bar trước khi breakout trên bar 1 thành công.
Bar 5 đã test đỉnh của signal bar bar 2 và tạo thành một higher low (đáy cao hơn).
Mọi nhịp sắc và mọi đảo chiều mạnh nên được nghĩ như một breakout của thứ gì đó. Không quan trọng bạn xem nhịp tăng sắc này từ bar 2 như một breakout trên đường bear trend line nhỏ vẽ từ bar 1 hay như một breakout trên reversal bar bar 2. Điều quan trọng là trong suốt spike này, thị trường đã đồng ý rằng giá quá thấp và nó đang trending nhanh để tìm một vùng nơi cả phe mua và phe bán đều thoải mái đặt lệnh. Điều này dẫn tới một channel lên từ bar 5 đến bar 6, và bên trong channel, có nhiều bar chồng lấn với bar trước hoặc bar sau. Sự chồng lấn của các bar này đại diện cho sự do dự của phe mua, nơi thị trường giờ có thể giao dịch xuống vài tick và vài phút trước khi đi cao hơn. Một số phe mua đang chốt lời khi thị trường đang đi cao hơn, và phe bán đang bắt đầu short. Nhiều người đang thêm vào vị thế short của họ (scale in) khi thị trường đi lên, cũng như nhiều phe mua đang giảm dần vị thế (scale out). Channel này là một nhịp tăng yếu hơn, và các channel thường là sự bắt đầu của một trading range. Như bạn có thể thấy, thị trường đã retrace về khoảng điểm bắt đầu của channel tại bar 7.
Bar 7 là một higher low test đáy swing bar 5 và một lần test thứ hai đáy của ngày hôm qua, và thị trường đảo chiều lên trong một double bottom (đáy đôi).
Bar 8 là một lower high test đỉnh bar 6 và giá đóng của ngày hôm qua, và tạo thành một double top thay vì một breakout. Nó cũng test đỉnh của bear inside bar (nến nằm hoàn toàn trong nến trước) theo sau bar 6, và bar đó là signal bar cho đợt bán tháo theo sau.
Đảo chiều xuống tới bar 9 đã test đường trung bình động và trở thành đơn giản một pullback từ nỗ lực breakout; nó được theo sau bởi một breakout thành công tới đỉnh mới trong ngày. Bar 9 cũng test điểm vào long trên bull bar theo sau bar 7, và nó đã miss stop hòa vốn một tick. Khi phe mua có thể ngăn stop hòa vốn của họ bị chạm, họ mạnh và một đỉnh mới thường theo sau.
Thảo luận sâu hơn về biểu đồ này
Khi một thảo luận biểu đồ kéo dài nhiều trang, hãy nhớ rằng bạn có thể vào website John Wiley & Sons tại www.wiley.com/go/tradingtrends và hoặc xem biểu đồ hoặc in nó ra, cho phép bạn đọc mô tả trong sách mà không phải lật trang liên tục trở lại để xem biểu đồ.
Trong Hình 3.1, bar 3 là một bull trend bar lớn là sự bắt đầu của một trend tăng, và nó nên được nghĩ như một breakout và một breakout gap (khoảng trống phá vỡ).
Thị trường đã phá xuống dưới bull channel vào giá đóng của ngày hôm qua, và một bull channel là một bear flag. Breakout có một số follow-through, nhưng có các thân tăng và các bar chồng lấn, cho thấy phe mua đang hoạt động. Thị trường sau đó breakout dưới đáy swing của ngày hôm qua, và breakout thất bại và trở thành đáy trong ngày. Nếu bạn không mua đảo chiều lên bar 2 từ đáy của ngày hôm qua, bull trend bar mạnh bar 3 đã cho bạn thấy rằng vị thế always-in (luôn ở trong thị trường) là lên và bạn nên tìm cách mua hoặc tại thị trường hoặc trên pullback bar 5. Always in được thảo luận chi tiết trong cuốn sách thứ ba, nhưng về cơ bản nó nghĩa là nếu bạn phải ở trong thị trường mọi lúc, hoặc long hoặc short, vị thế always-in là bất kỳ vị thế hiện tại nào của bạn. Đây là một khái niệm rất quan trọng, và hầu hết trader nên chỉ giao dịch theo hướng always-in. Double bottom pullback bar 7 là một cơ hội khác để long, hy vọng một chân tăng thứ hai vào lúc đóng cửa.
Kiểu mô hình này là một spike and channel bull trend. Nó hữu ích ở đây vì nó cho thấy một thị trường chuyển tiếp từ giao dịch một chiều (một trend mạnh) sang giao dịch hai chiều (một trading range). Không quan trọng bạn xem riêng bar 3 như spike hay toàn bộ nhịp sắc từ bar 2 đến bar 4 như spike. Thị trường đã pullback tới bar 5 rồi tăng theo cách ít cấp bách hơn. Các bar phần lớn chồng lấn lên nhau, và một trader có thể vẽ một channel chứa giá khá tốt. Bạn cũng có thể vẽ một trend channel line qua các đỉnh và làm nổi bật một kiểu channel wedge (nêm), vốn cũng được thảo luận sau. Một số trader đã short dưới đáy bar 4 rồi scale in thêm short tại các pullback khác khi thị trường đi lên. Những trader khác sẽ chờ đỉnh wedge, nơi họ sẽ chốt lời long hoặc khởi tạo short. Ngay khi spike được theo sau bởi pullback tới bar 5 rồi hành vi kiểu channel bắt đầu hình thành, trader sẽ thấy bull channel này như một bear flag có thể xảy ra và kỳ vọng rằng đáy của channel sẽ được test. Trong các mô hình nhỏ như mô hình này, lần test thường là về sau cùng ngày; nhưng trong các mô hình lớn hơn, lần test có thể đến một hoặc hai ngày sau.
Thị trường đã có đợt điều chỉnh hai chân như kỳ vọng từ đỉnh wedge xuống đáy của channel, nơi phe bán sẽ chốt lời trên tất cả các lần vào lệnh của họ. Các lần vào sớm hơn của họ sẽ chỉ xấp xỉ các lệnh hòa vốn, nhưng các lần vào sau sẽ có lời. Ngoài ra, phe mua sẽ lại tìm cách mua quanh đáy bar 5 nơi họ đã mua trước đó ở cuối pullback đầu tiên, và đó trở thành điểm bắt đầu của channel. Việc mua của phe mua và của phe bán đang cover short thường dẫn tới một nhịp nảy. Nhịp nảy đó có thể là một nhịp tăng từ một double bottom (bar 5 và 7) bull flag, hoặc nó có thể được theo sau bởi một trading range kéo dài hoặc thậm chí một trend giảm.
Cũng hãy chú ý rằng đáy bar 2 là cú đẩy thứ ba xuống và vì vậy là một đảo chiều wedge.
Bar 6 là một double top bear flag (đỉnh đầu tiên là bar cuối cùng của ngày hôm qua) và bar 5 và 7 tạo ra một double bottom bull flag. Điều này được theo sau bởi double bottom pullback bar 9. Bạn có thể mô tả price action giữa bar 5 và bar 9 như một triangle có thể breakout theo một trong hai hướng, nhưng điều đó sẽ bỏ qua tính tăng mà thị trường đang cho bạn thấy.
Bar 7 là một wedge bull flag vì nó là cú đẩy thứ ba xuống từ đỉnh bar 6.
Bar 8 là một đảo chiều final flag sau bull flag sáu bar đứng trước nó.